Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

Quyền lực họ Đinh lừng danh một thuở

Đinh Quý Khiêm sinh được một con trai là Đinh Như Luật, kế nghiệp làm thổ tù cai quản dân địa phương, nhân dân được trông dựa, đều no đủ, bình an. Đinh Như Luật lấy vợ sinh được một con trai là Đinh Nhân Phúc. Đinh Nhân Phúc sinh được một người con trai là Đinh Văn Thịnh và một con gái là Đinh Thị Đỏ. Đinh Văn Thịnh kế nghiệp làm thổ tù, khi chết không có con thừa tự. Người con gái là Đinh Thị Đỏ lấy chồng là phu đạo ở thôn Tý, xã Vĩnh Đồng sinh được Đinh Văn Thiệu.

Đinh Văn Thiệu vốn thông minh được nhân dân yêu mến, vẫn được kế nghiệp họ ngoại (Đinh Nhân Phúc) làm thổ tù cai quản dân địa phương, lấy vợ là Hoàng Thị Mỗ sinh được Đinh Văn Khương, Đinh Văn Khương không may chết sớm.

Thời gian đã xóa nhòa các cổ tự khắc trên đá nhưng gia phả về dòng họ Đinh vẫn còn lưu giữ nguyên trạng
Người thiếp của Đinh Văn Thiệu là Bùi Thị Thời người thôn Dầm sinh được một người con trai là Đinh Văn Cương, con thì nhỏ, vợ thì đơn độc không thể giữ được nghiệp nhà, bị người phụ đạo thôn Đồi xã Vĩnh Đồng tên là An Phú Bá (tức Hoàng Văn An), là kẻ cường hào khinh kẻ cô quả, mưu đồ cướp đoạt và ức hiếp nhân dân, cưỡng ép lấy vợ của thổ tù và nuốt cả cơ nghiệp.

Bùi Thị Thời sợ hãi mang con là Đinh Văn Cương trốn vào thôn Khang, xã Phù Liêm, huyện Lạc Thổ, xứ Thanh Hóa, ở nhờ và nuôi con. Đến lúc thành thân, may gặp lúc trung hưng của triều vua Lê chúa Trịnh được ban chức "Trịnh nguyên soái", dẫn quân theo đường nhỏ bí mật về Sơn Tây.

Đinh Văn Cương chiêu mộ lương, binh tòng quân theo việc nghĩa được sắc phong "Phá lỗ tướng quân Triều Đồng hầu", may nhờ hồng phúc của Thánh vương, trong khi đánh giặc, lại phụng mệnh lưu giữ chốn biên cương phía Bắc được hơn 7 năm thì xin lui về... được sắc ban cai quản dân binh của 7 xã. Đinh Văn Cương sau đó được gia phong Phụ quốc Thượng tướng quân tước Uy lộc hầu, giữ chức Phiên thần. Từ đó mà xây dựng cơ nghiệp.

Đinh Văn Cương lấy 6 vợ vừa thê, vừa thiếp. Chính thất là Bạch Thị Thừa sinh được Đinh Công KỷĐinh Công Kế, các người vợ và thiếp khác sinh được cả thảy 7 nam, 10 nữ. Đinh Công Kỷ kế nghiệp làm thổ tù, cai quản dân địa phương được tập phong Đề đốc Uy lộc hầu, đời đời làm phiên thần...

Đinh Công Kỷ là người có công giúp vua Lê trung hưng, chống giặc và xây dựng triều chính, ông là một trong những tướng tài của Trịnh Kiểm. Vì có công với nước nên bố ông là Đinh Văn Cương được phong tước Quận công. Do vậy dòng họ Đinh Công xuất phát từ Đinh Công Kỷ.

Do có công với nước nên khi chết Đinh Công Kỷ đã được mai táng theo tước hầu. Quan tài bằng gỗ trám đen (loại gỗ quý của vùng này), ngoài sơn son thếp vàng và được chôn theo nhiều đồ đạc quý. Đặc biệt do có công với triều Lê nên khi dựng mộ ông, nhà Lê đã cho chuyển nhiều phiến đá xanh từ Thanh Hóa ra làm cột mồ.

Theo diễn biến của lịch sử, sự chìm nổi của dòng họ Đinh, khu mộ quan Mường chỉ vang bóng một thời - trở thành thánh địa của dòng họ Đinh khi quyền lực vững mạnh ở thế kỷ thứ XVII sang đến thế kỷ sau. Khu mộ vẫn tiếp tục nhận thêm những chủ nhân mới về Mường ma, nhưng với vai trò của nó đã dần mờ nhạt đi vào huyền ức của đời sau cùng với nhiều truyền thuyết chưa khám phá ra hết được

Quản lý Khách sạn, quan ly khach san, setup khach san, set up khach san, tuyển dụng khách sạn. tuyen dung khach san

Nguồn gốc họ Đinh ly kỳ như truyền thuyết

Họ Đinh, dòng họ văn vật nhiều đời, gắn liền với những tên tuổi lớn như Đinh Bộ LĩnhNguồn gốc họ Đinh được kể lại như một truyền thuyết.

Họ Đinh, theo truyền thuyết là hậu duệ của Kim ngô Đại tướng quân Đinh Điền, em của Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh).

Ngược về nguồn gốc xa hơn nữa, họ Đinh có thể vốn bắt đầu từ con thứ của Khương Tử Nha đời nhà Chu là Lã Cấp, tên thụy là Đinh Công. Con cháu đời sau mới lấy tên thụy của tổ tiên làm họ.

Con của Tứ Nhạc (bề tôi của Vua Nghiêu) phò tá vua Vũ. Ông nối nghiệp cha tiến hành trị thủy thành công chín dòng sông ở Trung Hoa, được tập phong làm hầu quốc đời nhà Hạ. Khi nhà Hạ mất, họ này bị giáng xuống làm thứ dân, trải suốt đời nhà Thương, cho đến khi Khương Tử Nha.

Khương Tử Nha họ Lã, tên Vọng, thường câu cá ở bờ sông Vị, sau được vua Văn Vương nhà Chu vời về triều làm thày dạy cho Vũ Vương.

Ông có công phò giúp Vũ Vương đánh thắng nhà Ân, được phong nước Tề (tức Tề Thái Công) phò tá Chu Vũ Vương, được phong cho nước Tề. Con của ngài là Lã Cấp giữ chức hổ bí (còn đọc là hổ bôn, chức quan nhà Chu, chuyên cai quản các nghi thức bảo vệ vua chúa khi đi ra ngoài kinh thành), đổi hiệu là Đinh công (Đây là trường hợp lấy tên thụy của tổ tiên làm họ. Theo Thiên thị tộc lược sách thông chí chép, vào thời Tây Chu (thế kỷ thứ XI trước Công nguyên) cắt đất phong cho chư hầu, Khương Thái công (tức Khương Tử Nha) được phong đất Tề.

Con của ông là Lã Cấp nối nghiệp, sau khi mất có tên thụy là Đinh Công, hậu duệ về sau lấy tên thụy của ông làm họ Đinh. Sách Tính thị khảo lược cũng chép: Họ Đinh xuất phát từ Lã Vọng, phân bố ở Tề Am, Tề Dương. Tề Dương là tên quận đặt ra thời Tấn Huệ đế (ở ngôi năm 290-306) do cắt đất quận Trần Lưu, nay thuộc vùng đất huyện Lan Khảo, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Tề Âm là tên nước được lập ra năm Trung Nguyên thứ 6 (năm 144) đời vua Hán Cảnh Đế, nay thuộc vùng huyện Định Đào, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Từ đấy họ này chia ra ngành trưởng lấy họ Lã, ngành thứ lấy họ Đinh. Nguồn gốc họ Đinh bắt nguồn như thế.

Thời Tây Chu phát triển thịnh vượng, các thế hệ dòng họ sau này kế tiếp nhau giữ chức hổ bí. Khi nhà Chu chuyển dời về phía đông, họ tộc này cũng dời đi theo.

Thời Xuân thu - Chiến quốc, họ này chạy loạn về đất Giang Nam. Trải suốt từ thời nhà Hán cho đến nhà Đường, họ này sống yên ổn bằng nghề nông. Đến khi có loạn Hoàng Sào (người Tào Châu, Sơn Đông) đời Đường, năm Càn Phù thứ 2 (874), người họ này tham gia cuộc khởi nghĩa của Vương Tiên Chi. Sau khi Vương Tiên Chi chết, lên thay làm thủ lĩnh, hiệu là Xung Thiên Quân Bình Đại Tướng quân, đem quân đánh phá Quảng Châu, rồi tiến lên phía bắc đánh Lạc Dương, vào Trường An, lập ra chính quyền Thiên Tề, đặt niên hiệu Kim Thống.

Sau bị Lý Khắc Dụng đánh bại, cuối cùng phải tự vẫn năm Trung Hòa thứ 4 (884), người họ Đinh phải rời đất liền ra biển, ngồi thuyền lênh đênh trôi nổi theo sông nước, không gặp được gió thuận, nên phiêu bạt xuống phương nam, một mình đơn độc gửi thân ở Gia Viễn, Ninh Bình. Mãi sau này, người họ này sinh được hai người con trai. Hai người con trưởng và con thứ mỗi người lại sinh được một con trai. Người anh cả mất sớm. con của ông anh cả rất có tài bơi lặn dưới nước, năm 12 tuổi chuyên nghề lặn sông bắt cá nuôi mẹ, họ cùng sống nương tựa vào ông chú. Con trai của ông chú tên là Đinh Điền, mới 4 tuổi thường chăn trâu chơi đùa với cánh trẻ con trong làng.

Thời bấy giờ ở Bắc quốc có một người tinh thông thuật số, đêm chiêm tinh trên trời thấy có sao Thiên Mã chiếu xuống vùng sông Mã nước Nam, bèn cất công dò theo dấu vết lần tìm đến nơi, nhận biết dưới đáy nước có ngôi huyệt hình Thiên Mã. Người ấy bèn lân la hỏi đám trẻ mục đồng có ai tài giỏi dám lặn xuống đáy nước thì sẽ trọng thưởng. Người anh nhận lời, theo lời thầy thuật số lặn xuống đáy sông xem xét, thấy quả đúng có huyệt như lời ông ta nói. Thầy thuật số dặn hôm sau lại tới phiền lần nữa và hứa cũng sẽ thưởng hậu.

Người anh hiểu ra ngay ý định của thầy, ông bèn trở về thu xếp ngầm đem hài cốt của ông nội và của cha mình gói ghém gọn thành một bọc. Hôm sau, thầy thuật số Bắc quốc tới nơi, giao cho ông một bọc bao mang xuống đáy nước, rồi cứ theo cách thức như thế mà làm. Ông liền đem cái bọc quấn bằng giẻ áo quấn vào mình quanh chỗ bụng rốn, thác cớ là gần đây hay bị đau bụng. Người Bắc quốc cũng tin lời. Ông liền lặn xuống nước, đem bọc hài cốt nhà mình đặt vào miệng ngựa, còn bọc của người kia đem treo vào cổ ngựa. Nguyên do là người kia có có phép thuật, nên chỉ khi ông ta niệm chú thì miệng ngựa mới há ra, nhờ thế mới làm xong việc.

Sau đó, ông thầy Tàu trở về bản quốc, đêm ra xem tượng ngựa sao, vẫn thấy chiếu xuống nước Nam, lấy làm lạ nhẩm tính một hồi thì biết là mình đã mắc lừa, lòng tức tối lắm, nghĩ cách báo thù. Ông ta bèn lấy cái gậy làm thành thanh gươm thần, nhờ một người khác sang ta nói phao lên rằng: Đã có được huyệt đất rồi, nhưng có ngựa mà không có gươm thì làm được việc gì? Ông nghe thấy cũng có lý, tin ngay, cầm cái gươm lặn xuống nước treo vào đầu ngựa. Không ngờ vừa đeo gươm vào cổ ngựa thì bổng thấy sát khí ùn ùn bốc lên. Sau này ông lên ngôi, hưởng nước không được lâu dài chính là vì cái cớ đó.

Nhưng, đấy là chuyện xảy ra sau này. Còn từ bấy giờ trở đi, ông biết mình đã được đắc địa, nên không hề hé lộ chuyện ra ngoài, chỉ kể cho người em họ là Đinh Điền biết mà thôi. Một bữa đi chăn trâu ngoài đồng, ông giết ngay con trâu đem mổ thịt rồi hội các bạn lại làm lễ tế khao quân. Lúc ấy, ông đàng hoàng ngồi chĩnh chiện, mặt ngoảnh về hướng nam, có Đinh Điền và Nguyễn Bặc đứng hầu hai bên, bọn trẻ còn lại đứng phân thành hai bên đứng theo thứ bậc cùng đồng thanh tung hô. Tế xong liền mở tiệc, nghi thức theo y như phép tắc ở chốn triều đình. Người chú ở nhà hay tin đùng đùng nổi giận, vác ngay con dao phát bờ đuổi đánh. Ông vội nhảy đại xuống sông, miệng hô: “Giang thần mau cứu ta!” Trên sông bỗng hiện ra một con rồng đất cúi đầu đỡ lấy bàn chân ông. Người chú nom vậy thì kinh sợ, cắm vội con dao xuống đất, chắp tay hướng về lòng sông cầu khấn thần minh cùng trời đất phù hộ cho dòng họ nhà mình.

Từ đấy lòng người suy tôn ngưỡng mộ, dân chúng hướng cả về theo Đinh ĐiềnĐinh Bộ Lĩnh. Đến sau, Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan được mười hai Sứ quân, bắt đầu mở ra nền chính thống cho non sông nước Việt ta. Ông trở thành vị vua đầu tiên trong các bậc đế vương nước mình. Dòng họ Đinh cũng bắt đầu vẻ vang từ đó!

Cố nhiên, câu chuyện chúng tôi vừa kể về nguồn gốc họ Đinh còn nhuốm màu huyền thoại. Rất mong các nhà nghiên cứu về lịch sử các dòng họ Việt Nam cũng như các bậc thức giả góp thêm ý kiến khảo đính.

Quản lý Khách sạnquan ly khach sansetup khach sanset up khach santuyển dụng khách sạntuyen dung khach san

Đinh Văn Tả tiền chủ đất Thành Đông

Đinh Văn Tả sinh ngày 26-11 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1599). Quê tại làng Hàm Giang (sau gọi là Hàn Giang), huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, (nay là phường Quang Trung, thành phố Hải Dương).

Đinh Văn Tả là danh tướng ở thế kỷ XVII, dinh thự, đất đai, vườn ruộng Vua ban có hàng trăm mẫu. Năm 1804, Thành Đông  được xây dựng, rộng gần 1km2, diện tích ấy căn bản thuộc lộc điền của ông. Từ năm 1804 đến năm 1923, Thành Đông chỉ là một đơn vị hành chính trực thuộc huyện Cẩm Giàng, đến tháng 12 năm 1923, chính quyền thực dân ra nghị định thành lập thành phố loại ba, trực thuộc tỉnh. Bấy giờ Hải Dương là một trong 3 thành phố của Bắc Kỳ, ngoài Hà Nội. Thành phố khi ấy chỉ khoảng 4km2, đất ấy cũng có một phần thuộc lộc điền của Đinh Văn Tả. Bởi thế, người dân nội thành Hải Dương hôm nay cần tìm hiểu về người tiền chủ của mình.

Đinh Văn Tả sinh ngày 26-11 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1599). Quê tại làng Hàm Giang (sau gọi là Hàn Giang), huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, (nay là phường Quang Trung, thành phố Hải Dương). Ông thuộc hậu duệ Vua Đinh Tiên Hoàng, người gốc Ninh Bình. Cụ tổ 5 đời là Đinh Đàm có công trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Thân phụ là Đinh Văn Phú, có công dẹp nhà Mạc, được phong Hùng Quận công. Thân mẫu là Nguyễn Thị Năng, nổi tiếng là người hiền hoà nhân hậu, sinh thời được tôn là Hiền mẫu. Đinh Văn Tả sinh tại quân doanh An Tràng, Gia Viễn, Ninh Bình. Chưa đầy một năm thì cha mất, được mẹ đưa về Hàm Giang nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

Sinh ra trong hoàn cảnh xã hội đầy biến động, vốn có truyền thống hiếu học, Đinh Văn Tả đã sớm có ý chí rèn luyện võ nghệ, học tập binh pháp để nối nghiệp cha anh. Sinh thời Đinh Văn Tả là người thông minh, sức khoẻ phi thường, có biệt tài cưỡi ngựa bắn cung. Tính tình phóng túng, không chịu bó buộc. Năm 1624, khi đó ông 26 tuổi, nhân đi qua trường bắn, thấy quân triều đình tập luyện vất vả mà kết quả không cao. Ông xin vào bắn thử, mười phát trúng đích cả mười. Chúa Trịnh mến tài phong làm tướng Điển binh. Từ đấy ông lập được nhiều chiến công nổi tiếng.

Triều Mạc, do Mạc Đăng Dung, người Hải Dương khởi dựng từ năm 1527,  lừng lẫy 65 năm ở thế kỷ XVI(1527-1592), có nhiều thành tựu về kinh tế, văn hoá, giáo dục. Từ năm 1593, nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long và đồng bằng châu thổ, lập trị sở ở Cao Bằng, tồn tại song hành hành với triều Lê hơn nửa thế kỷ sau. Người có công lớn trong việc đánh dẹp nhà Mạc lại là Đinh Văn Tả, cũng là người Hải Dương. Đó là bi kịch của một thời.

Sự nghiệp của danh tướng Đinh Văn Tả được chính sử, rồi bi ký, gia phả ghi khá đầy đủ, thậm chí đến từng chi tiết trong đời thường, ở đây chúng tôi chỉ ghi khái lược.

Năm 1625, nhận lệnh Vua đi đánh nhà Mạc ở Cao Bằng thắng lợi và lập công đầu.

Năm 1628, cùng xa giá Vua Lê Thần Tông vào Nam đánh Nguyễn Phúc Nguyên, đại thắng, ông được phong tước Hầu.

Năm 1633 đến năm 1638, trấn giữ vùng Hải Dương chặn đứng mọi âm mưu làm phản của nhà Mạc.

Năm 1639, truy quét giặc ở Cao Bằng.

Năm 1645, phụng mệnh vua cùng các con đi đánh quân Mãn Thanh ở biên giới phía Bắc, đại thắng, nhưng trận này ba con trai ông hy sinh.

Năm 1648, ở tuổi 50, ông lấy vợ thứ là bà Nguyễn Thị Huống, con gái quan Trung hầu họ Nguyễn, người thôn Đông Cao, xã An Lạc, huyện Thanh Lâm. Bà Huống sinh 2 con trai, sau đều thành đạt.

Từ năm 1649 đến 1658, suốt 9 năm liền, ông cầm quân đánh giặc ở phía Nam, thu 7  huyện ở phía nam sông Gianh.

Năm 1652, ông phát hiện bọn Hoàng Nhân Dung có âm mưu chống lại triều đình kịp thời trấn áp.

Năm 1659, Đinh Văn Tả được thăng chức Đô đốc đồng tri, tước Lộc Quận công.

Năm 1659-1662, trấn thủ thành Nghệ An.

Năm 1663, trở về kinh, lĩnh nhiệm vụ diệt tàn quân Mạc ở An-Quảng (vùng Quảng Ninh ngày nay).

Năm 1668, tiếp tục tấn công quân Mạc ở Cao Bằng. Khi về được thăng Tả đô đốc, tước Thiếu bảo.

Năm 1672-1674, đốt cháy các thuyền chiến của giặc và giữ nguyên biên thuỳ.

Năm 1676, ông đã gần 80 tuổi vẫn hăng hái cầm quân ra trận diệt tàn quân Mạc ở biên giới, chấm dứt cơ đồ nhà Mạc.

Với những chiến công trên, ông được phong Thiếu uý Thái bảo Quận công, ban Long triều tán tướng,  miễn lễ khi vào chầu.

Năm Đinh Tị (1677) Vua cho lập sinh từ thờ Đinh Văn Tả tại quê Hàm Giang và sinh phong Thành hoàng bản thổ, Thượng đẳng Đại vương, ban 300 mẫu ruộng làm lộc điền tại Hàm Giang, Hàm Thượng, Bình Lâu, chia cấp cho dân cày cấy, chưa kể tài sản riêng của gia đình ông. Đây là trường hợp hiếm có dưới triều đại phong kiến. Chúng ta biết rằng, thời Trần, sau kháng chiến chống Nguyễn, chỉ có Trần Hưng Đạo được triều đình cho lập đền thờ khi còn đang sống. Nhưng Trần Hưng Đạo khi đó không chỉ có công lớn mà còn là thân phụ của Hoàng hậu Trần Nhân Tông, ông vua đương chức. Còn Đinh Văn Tả là ngoại thích, thê thiếp cũng không phải Công chúa hay thuộc dòng hoàng tộc mà được lập đền thờ khi còn sống là ân sủng đặc biệt của triều Lê Trung Hưng. Khi ông đi đánh dẹp nhà Mạc ở Cao Bằng, có lấy người vợ ba người địa phương, hậu duệ của dòng này cũng khá hiển đạt.

Ngày 4 tháng 5 năm Ất Sửu niên hiệu Chính Hoà (1685) ông mất tại nhà riêng tại Kinh đô, thọ 87 tuổi, vua Lê, chúa Trịnh thương tiếc thân hành điếu phúng, an táng ông theo nghi thức vương giả. Vua ban thuỵ là "Vũ Dũng". Về sau con cháu ông nối nhau làm tướng, cầm quân, đánh giặc nổi tiếng. Dân gian có câu: "Quan làng Lặc (Ngọc Lặc), đánh giặc làng Hàm (Hàn Thượng)" là tán dương chi họ ông.

Tại Hàn Giang, nay thuộc phường Quang Trung,  còn 3 di tích: Lăng mộ Đinh tướng công cùng phu nhân, Nhà thờ họ Đinh và Đình Hàn Giang.

Lăng mộ Đinh tướng công là mộ hợp táng, gồm tướng công, chính thất Phạm Thị Ngọc Điều, thứ thất Nguyễn Thị Ngọc Huống.

Nhà thờ họ Đinh ở Hàn Giang, phường Quang Trung, Thành phố Hải Dương
Mộ của Đinh Văn Tả được an táng một lần, theo kiểu mộ xác ướp, bảo vệ di hài lâu dài. Năm 1942, khi thực dân Pháp làm sân bay dã chiến, đã khai quật những ngôi mộ này.

Chính thất Phạm Thị Ngọc Điều, được phong "Ấm quận công phu nhân", sau được phong "Trung đẳng đương cảnh thành hoàng, tư dung đoan hạnh trinh thục hụệ phương, Ngọc Đào công chúa". Bà tạ thế giờ Tỵ, ngày 5 tháng 3 năm Nhâm Thìn (1652). Sau khi mất được vua ban 12 chữ vàng:" Kim chi ngọc diệp, Tiên phái thuần nữ, cẩn tiết công chúa". Bà có 3 con trai theo cha đánh giặc và đều hy sinh tại chiến trường.

Thứ thất Nguyễn Thị Ngọc Huống, sinh năm Mậu Thìn(1628), là người thân thích với chính phu nhân, lấy tướng công năm 21 tuổi. Bà có công lao giúp chồng đáng giặc, nhiều lần mang của riêng cấp cho quân lính hoặc giúp dân khi hoạn nạn. Năm Nhâm Tý(1672), theo chồng đánh giặc ở Thuận Quảng (Thuận Hoá, Quảng Bình), sau lại về đánh chiếm các vùng Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn; đào hào đắp luỹ ở Cao Bằng, dụ giặc ra hàng, lập chiến công hiển hách, được phong Đương cảnh thành hoàng. Ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682) bà qua đời, được vua ban sắc phong và cờ có chữ Duệ để thờ phụng.

Hiện nay tại khu di tích còn 15 tấm bia nói về Đinh tướng công, trong đó có 7 tấm khắc dựng từ khi tướng công còn đang sống. Tác giả của những văn bia này phần lớn của các vị đại nho đương thời biên soạn. Trong đình có đôi câu đối cổ nêu được tài năng và sự nghiệp của tướng công:

Tiết việt quyền long triều túc tướng,

Phiên viên trách trọng quốc nguyên thần.
Lăng tướng công Đinh Văn Tả, phường Quang Trung, thành phố Hải Dương
Đây là tư liệu lịch sử có giá trị không riêng của thành phố. Căn cứ giá trị của di tích và sự nghiệp người được thờ, ngày 29-1-1992, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) ra quyết định số 68 VH/QĐ, xếp hạng Quốc gia khu di tích.

Hằng năm, vào ngày 8 tháng 3, con cháu dòng họ Đinh của Hàn Giang sinh sống ở mọi miền đất nước, hành hương về đình cùng nhân dân địa phương tổ chức lễ hội trọng thể, tưởng nhớ công ơn của tướng quân cùng phu nhân. Trong số khách dự lễ hội, phần lớn là người nội thành Hải Dương, họ đến lễ Thành hoàng đồng thời thể hiện sự biết ơn người tiền chủ của phố phường mình đang sống.

Ninh Bình: Trung tâm liên lạc họ Đinh Việt Nam

Ngày nay, tất cả các tỉnh, thành phố trên đất nước ta đều có người họ Đinh định cư. Nhưng Ban Liên lạc họ Đinh hiện đặt ở Ninh Bình.

Nếu để tìm ra một dòng họ giàu bản sắc và mang đặc trưng văn hóa Ninh Bình nhất thì có lẽ dòng họ Đinh Ninh Bình là dòng họ đáp ứng được nhiều tiêu chí nhất. Họ Đinh Ninh Bình không chỉ tồn tại dọc suốt chiều dài lịch sử Việt Nam với hơn 1.000 năm văn hiến mà hiện tại còn là dòng họ chiếm tỷ lệ cao nhất ở Ninh Bình, cùng với họ Nguyễn. Họ Đinh Ninh Bình cũng chiếm tỷ lệ đông nhất về số lượng nhân khẩu họ Đinh so với các địa phương khác ở Việt Nam.

Sông có cội, nước có nguồn

Sở dĩ Ninh Bình được chọn là nơi đặt Ban Liên lạc họ Đinh vì đây là nơi gắn với quê hương và sự nghiệp của đức Đinh Tiên Hoàng Đế - người có công đánh tan loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn để vinh quang trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1.000 năm Bắc thuộc. Và Đinh tộc khẳng định: “Ở đấy chắc chắn có cả hậu duệ của đức ngài Ngoại giáp Đinh Điền.”

Tất cả con cháu họ Đinh đều muốn dồn về một gốc như một lẽ đương nhiên. Bởi như đền thờ tam quốc công, thờ Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt ở Đông Cao, Trung Chính, Nông Cống, Thanh Hóa đã ghi:

Mộc xuất thiên chi do hữu bản.
Thủy lưu vạn phái tố tòng nguyên.

Nghĩa là: 

Cây mọc nghìn cành do có gốc.
Nước chảy muôn nơi vẫn tự nguồn.

Điều đó có ngụ ý, họ Đinh có trăm ngàn nhánh, chi, cành trên khắp đất nước Việt Nam, nhưng vẫn có cội nguồn chung của nó.

Độc đáo họ Đinh ở Ninh Bình

Điều đặc biệt là dòng họ Đinh Ninh Bình phân bố trên khắp các xã của tỉnh, nhưng tập trung với mật độ cao ở nửa phía bắc.


Nhiều người lý giải việc họ Đinh ở Ninh Bình chiếm số lượng lớn vì nơi đây là quê hương của Vua Đinh Bộ Lĩnh (Gia Phương, Gia Viễn là nơi sinh; Gia Thủy, Nho Quan là quê mẹ và nơi lớn lên; Trường Yên, Hoa Lư là nơi vua xây dựng kinh đô Đại Cồ Việt), họ Đinh tồn tại từ lâu và có ảnh hưởng đến các dòng họ khác. 

Do một số biến cố trong lịch sử như khi nhà Lý cướp ngôi nhà Tiền Lê, nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, nhà Mạc bị thất thủ, thì con cháu họ Lê, họ Trần, họ Mạc ở Ninh Bình đều đổi sang họ Đinh, dòng họ của vị danh nhân được tôn vinh trên vùng đất này sẽ hợp lý và an toàn nhất. Nhiều nhánh họ Đinh ở Ninh Bình hiện tại vẫn còn mang phong tục: sinh Đinh tử Lê, sinh Đinh tử Trần, sinh Đinh tử Nguyễn… có nghĩa là khi sinh mang họ Đinh nhưng khi chết thì mang họ Lê, Trần hay Nguyễn…


Bất luận là người họ Đinh thực thụ hay từ họ khác chuyển sang thì những người họ Đinh ở Ninh Bình hôm nay cũng đều tự hào vì dòng họ mình đã đóng góp cho quê hương những anh hùng kiệt xuất trong lịch sử. Họ Đinh gắn với vùng đất cố đô như hai trong một, giống như họ Phùng ở vùng Sơn Tây, họ Phan ở Nghệ Tĩnh; thậm chí nói tới họ Đinh là nghĩ tới Ninh Bình và nói tới Ninh Bình là nghĩ tới họ Đinh.

Vừa qua, tại 175 Nguyễn Thái Học, quận Ba Đình, Hà Nội, cuộc gặp lần đầu tiên của cộng đồng người họ Đinh Việt Nam đã diễn ra thân mật và đông vui. 

Ông Đinh Văn Tư , Phó Chủ tịch thường trực Hội người cao tuổi Việt Nam cho rằng, kết nối họ Đinh là khát vọng của tất cả các con cháu họ Đinh trên mọi miền Tổ quốc. 

Dòng họ Đinh quyết định, trước mắt lấy Ban đại diện họ Đinh Phượng Vũ làm nòng cốt, địa chỉ kết nối. Về lâu dài sẽ lấy cố đô Hoa Lư làm trung tâm, các chi họ Đinh cần xây dựng phương án nhân sự cho mỗi tỉnh, huyện có Ban Liên lạc, thường trực, chương trình hành động, kế hoạch phát triển, kinh phí đóng góp.

Anh Đinh Xuân Lộc, một tổng giám đốc trẻ người Ninh Bình, nói: “Tôi tham gia cuộc họp để tìm hiểu thêm về họ Đinh

Tôi nghĩ việc hướng về cội nguồn là công việc thiêng liêng, lôi cuốn nhiệt tình, tâm huyết của tuổi trẻ. Tôi mong một ngày nào đó gặp mặt ở Hoa Lư, Ninh Bình. Và có lẽ đó cũng chính là tâm huyết của con cháu họ Đinh trên mọi miền Tổ quốc”.