Đinh Văn Tả sinh ngày 26-11 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1599). Quê tại làng Hàm Giang (sau gọi là Hàn Giang), huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, (nay là phường Quang Trung, thành phố Hải Dương).
Đinh Văn Tả là danh tướng ở thế kỷ XVII, dinh thự, đất đai, vườn ruộng Vua ban có hàng trăm mẫu. Năm 1804, Thành Đông được xây dựng, rộng gần 1km2, diện tích ấy căn bản thuộc lộc điền của ông. Từ năm 1804 đến năm 1923, Thành Đông chỉ là một đơn vị hành chính trực thuộc huyện Cẩm Giàng, đến tháng 12 năm 1923, chính quyền thực dân ra nghị định thành lập thành phố loại ba, trực thuộc tỉnh. Bấy giờ Hải Dương là một trong 3 thành phố của Bắc Kỳ, ngoài Hà Nội. Thành phố khi ấy chỉ khoảng 4km2, đất ấy cũng có một phần thuộc lộc điền của
Đinh Văn Tả. Bởi thế, người dân nội thành Hải Dương hôm nay cần tìm hiểu về người tiền chủ của mình.
Đinh Văn Tả sinh ngày 26-11 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1599). Quê tại làng Hàm Giang (sau gọi là Hàn Giang), huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, (nay là phường Quang Trung, thành phố Hải Dương). Ông thuộc hậu duệ Vua Đinh Tiên Hoàng, người gốc Ninh Bình. Cụ tổ 5 đời là Đinh Đàm có công trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Thân phụ là Đinh Văn Phú, có công dẹp nhà Mạc, được phong Hùng Quận công. Thân mẫu là Nguyễn Thị Năng, nổi tiếng là người hiền hoà nhân hậu, sinh thời được tôn là Hiền mẫu.
Đinh Văn Tả sinh tại quân doanh An Tràng, Gia Viễn, Ninh Bình. Chưa đầy một năm thì cha mất, được mẹ đưa về Hàm Giang nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
Sinh ra trong hoàn cảnh xã hội đầy biến động, vốn có truyền thống hiếu học,
Đinh Văn Tả đã sớm có ý chí rèn luyện võ nghệ, học tập binh pháp để nối nghiệp cha anh. Sinh thời
Đinh Văn Tả là người thông minh, sức khoẻ phi thường, có biệt tài cưỡi ngựa bắn cung. Tính tình phóng túng, không chịu bó buộc. Năm 1624, khi đó ông 26 tuổi, nhân đi qua trường bắn, thấy quân triều đình tập luyện vất vả mà kết quả không cao. Ông xin vào bắn thử, mười phát trúng đích cả mười. Chúa Trịnh mến tài phong làm tướng Điển binh. Từ đấy ông lập được nhiều chiến công nổi tiếng.
Triều Mạc, do Mạc Đăng Dung, người Hải Dương khởi dựng từ năm 1527, lừng lẫy 65 năm ở thế kỷ XVI(1527-1592), có nhiều thành tựu về kinh tế, văn hoá, giáo dục. Từ năm 1593, nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long và đồng bằng châu thổ, lập trị sở ở Cao Bằng, tồn tại song hành hành với triều Lê hơn nửa thế kỷ sau. Người có công lớn trong việc đánh dẹp nhà Mạc lại là
Đinh Văn Tả, cũng là người Hải Dương. Đó là bi kịch của một thời.
Sự nghiệp của danh tướng
Đinh Văn Tả được chính sử, rồi bi ký, gia phả ghi khá đầy đủ, thậm chí đến từng chi tiết trong đời thường, ở đây chúng tôi chỉ ghi khái lược.
Năm 1625, nhận lệnh Vua đi đánh nhà Mạc ở Cao Bằng thắng lợi và lập công đầu.
Năm 1628, cùng xa giá Vua Lê Thần Tông vào Nam đánh Nguyễn Phúc Nguyên, đại thắng, ông được phong tước Hầu.
Năm 1633 đến năm 1638, trấn giữ vùng Hải Dương chặn đứng mọi âm mưu làm phản của nhà Mạc.
Năm 1639, truy quét giặc ở Cao Bằng.
Năm 1645, phụng mệnh vua cùng các con đi đánh quân Mãn Thanh ở biên giới phía Bắc, đại thắng, nhưng trận này ba con trai ông hy sinh.
Năm 1648, ở tuổi 50, ông lấy vợ thứ là bà Nguyễn Thị Huống, con gái quan Trung hầu họ Nguyễn, người thôn Đông Cao, xã An Lạc, huyện Thanh Lâm. Bà Huống sinh 2 con trai, sau đều thành đạt.
Từ năm 1649 đến 1658, suốt 9 năm liền, ông cầm quân đánh giặc ở phía Nam, thu 7 huyện ở phía nam sông Gianh.
Năm 1652, ông phát hiện bọn Hoàng Nhân Dung có âm mưu chống lại triều đình kịp thời trấn áp.
Năm 1659,
Đinh Văn Tả được thăng chức Đô đốc đồng tri, tước Lộc Quận công.
Năm 1659-1662, trấn thủ thành Nghệ An.
Năm 1663, trở về kinh, lĩnh nhiệm vụ diệt tàn quân Mạc ở An-Quảng (vùng Quảng Ninh ngày nay).
Năm 1668, tiếp tục tấn công quân Mạc ở Cao Bằng. Khi về được thăng Tả đô đốc, tước Thiếu bảo.
Năm 1672-1674, đốt cháy các thuyền chiến của giặc và giữ nguyên biên thuỳ.
Năm 1676, ông đã gần 80 tuổi vẫn hăng hái cầm quân ra trận diệt tàn quân Mạc ở biên giới, chấm dứt cơ đồ nhà Mạc.
Với những chiến công trên, ông được phong Thiếu uý Thái bảo Quận công, ban Long triều tán tướng, miễn lễ khi vào chầu.
Năm Đinh Tị (1677) Vua cho lập sinh từ thờ
Đinh Văn Tả tại quê Hàm Giang và sinh phong Thành hoàng bản thổ, Thượng đẳng Đại vương, ban 300 mẫu ruộng làm lộc điền tại Hàm Giang, Hàm Thượng, Bình Lâu, chia cấp cho dân cày cấy, chưa kể tài sản riêng của gia đình ông. Đây là trường hợp hiếm có dưới triều đại phong kiến. Chúng ta biết rằng, thời Trần, sau kháng chiến chống Nguyễn, chỉ có Trần Hưng Đạo được triều đình cho lập đền thờ khi còn đang sống. Nhưng Trần Hưng Đạo khi đó không chỉ có công lớn mà còn là thân phụ của Hoàng hậu Trần Nhân Tông, ông vua đương chức. Còn
Đinh Văn Tả là ngoại thích, thê thiếp cũng không phải Công chúa hay thuộc dòng hoàng tộc mà được lập đền thờ khi còn sống là ân sủng đặc biệt của triều Lê Trung Hưng. Khi ông đi đánh dẹp nhà Mạc ở Cao Bằng, có lấy người vợ ba người địa phương, hậu duệ của dòng này cũng khá hiển đạt.
Ngày 4 tháng 5 năm Ất Sửu niên hiệu Chính Hoà (1685) ông mất tại nhà riêng tại Kinh đô, thọ 87 tuổi, vua Lê, chúa Trịnh thương tiếc thân hành điếu phúng, an táng ông theo nghi thức vương giả. Vua ban thuỵ là "Vũ Dũng". Về sau con cháu ông nối nhau làm tướng, cầm quân, đánh giặc nổi tiếng. Dân gian có câu: "Quan làng Lặc (Ngọc Lặc), đánh giặc làng Hàm (Hàn Thượng)" là tán dương chi họ ông.
Tại Hàn Giang, nay thuộc phường Quang Trung, còn 3 di tích: Lăng mộ Đinh tướng công cùng phu nhân,
Nhà thờ họ Đinh và Đình Hàn Giang.
Lăng mộ Đinh tướng công là mộ hợp táng, gồm tướng công, chính thất Phạm Thị Ngọc Điều, thứ thất Nguyễn Thị Ngọc Huống.
 |
| Nhà thờ họ Đinh ở Hàn Giang, phường Quang Trung, Thành phố Hải Dương |
Mộ của
Đinh Văn Tả được an táng một lần, theo kiểu mộ xác ướp, bảo vệ di hài lâu dài. Năm 1942, khi thực dân Pháp làm sân bay dã chiến, đã khai quật những ngôi mộ này.
Chính thất Phạm Thị Ngọc Điều, được phong "Ấm quận công phu nhân", sau được phong "Trung đẳng đương cảnh thành hoàng, tư dung đoan hạnh trinh thục hụệ phương, Ngọc Đào công chúa". Bà tạ thế giờ Tỵ, ngày 5 tháng 3 năm Nhâm Thìn (1652). Sau khi mất được vua ban 12 chữ vàng:" Kim chi ngọc diệp, Tiên phái thuần nữ, cẩn tiết công chúa". Bà có 3 con trai theo cha đánh giặc và đều hy sinh tại chiến trường.
Thứ thất Nguyễn Thị Ngọc Huống, sinh năm Mậu Thìn(1628), là người thân thích với chính phu nhân, lấy tướng công năm 21 tuổi. Bà có công lao giúp chồng đáng giặc, nhiều lần mang của riêng cấp cho quân lính hoặc giúp dân khi hoạn nạn. Năm Nhâm Tý(1672), theo chồng đánh giặc ở Thuận Quảng (Thuận Hoá, Quảng Bình), sau lại về đánh chiếm các vùng Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn; đào hào đắp luỹ ở Cao Bằng, dụ giặc ra hàng, lập chiến công hiển hách, được phong Đương cảnh thành hoàng. Ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682) bà qua đời, được vua ban sắc phong và cờ có chữ Duệ để thờ phụng.
Hiện nay tại khu di tích còn 15 tấm bia nói về
Đinh tướng công, trong đó có 7 tấm khắc dựng từ khi tướng công còn đang sống. Tác giả của những văn bia này phần lớn của các vị đại nho đương thời biên soạn. Trong đình có đôi câu đối cổ nêu được tài năng và sự nghiệp của tướng công:
Tiết việt quyền long triều túc tướng,
Phiên viên trách trọng quốc nguyên thần.
 |
| Lăng tướng công Đinh Văn Tả, phường Quang Trung, thành phố Hải Dương |
Đây là tư liệu lịch sử có giá trị không riêng của thành phố. Căn cứ giá trị của di tích và sự nghiệp người được thờ, ngày 29-1-1992, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) ra quyết định số 68 VH/QĐ, xếp hạng Quốc gia khu di tích.
Hằng năm, vào ngày 8 tháng 3, con cháu dòng
họ Đinh của Hàn Giang sinh sống ở mọi miền đất nước, hành hương về đình cùng nhân dân địa phương tổ chức lễ hội trọng thể, tưởng nhớ công ơn của tướng quân cùng phu nhân. Trong số khách dự lễ hội, phần lớn là người nội thành Hải Dương, họ đến lễ Thành hoàng đồng thời thể hiện sự biết ơn người tiền chủ của phố phường mình đang sống.